Mỗi truyện ngắn là một bài thơ trữ tình đầy xót thương
Trên văn
đàn văn học Việt Nam trước cách mạng tháng tám, Thạch Lam chưa được xếp ở
vị trí số một nhưng cũng là một tên tuổI rất đáng coi trọng và khẳng
định, Thạch Lam tuy có viết truyện dài nhưng sở trường của ông là truyện
ngắn, bởi ở đó tài năng nghệ thuật được bộc lộ một cách trọn vẹn, tài
hoa. Nguyễn Tuân viết : “Nói đến Thạch Lam ngườI ta vẫn nhớ đến truyện
ngắn nhiều hơn là truyện dài”. Đóng góp của Thạch Lam không chỉ ở nghệ
thuật mà nó còn giúp ta thanh lọc tâm hồn : “ MỗI truyện là một bài thơ
trữ tình đầy xót thương” . Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam cũng
là “một bài thơ trữ tình đầy xót thương” như thế . Thạch Lam tuy có chân
trong Tự lực Văn đoàn nhưng tư tưởng thẩm mĩ lạI theo một hướng riêng.
Ông xây dựng cho mình một thế giớI nhân vật khác. Ông lặng lẽ hướng ngòi
bút của mình về phía những ngườI nghèo khổ vớI tấm lòng trắc ẩn chân
thành? ( Phong Lê ). Thế giớI nhân vật là những lớp ngườI nghèo khổ cơ
cực bế tắc nói chung, những nhân vật của Thạch Lam thật nhỏ bé và tộI
nghiệp: Họ thường nép mình trong bóng tốI của một không gian hẹp thường
là nơi phố huyện tiêu điều, xơ xác hoặc những xóm nghèo ngoại ô Hà NộI.
Nhân vật của ông chủ yếu là con ngườI thân phận, họ thường tìm kiếm nơi
ẩn nấu trong gia đình, giữa bốn bức tường hoặc trong sân vườn, có nghĩa
là tách khỏI cuộc đờI, nơi xã hộI đầy bất trắc bên ngoài. Có lẽ như thế
con ngườI mớI cảm nhận hết về mình và về cuộc sống xung quanh. Dường như
họ thu mình trước thực tạI để xót mình và thương ngườI, để bâng khuâng
man mác khi hồI tưởng về quá khứ? Không dám nhìn về tương lai, mang nặng
một mặc cảm mờ mịt trong lòng khi nghĩ về mai sau.
Cảm quan
trong truyện của Thạch Lam có thể gói gọn trong ba chữ đó là niềm xót
thương. Những con ngườI nhỏ bé ấy bao giờ cũng được nhà văn học trong
một không khí trữ tình đầy mến thươngtoả ra một cách dịu dàng từ tấm
lòng tác giả ..
Truyện của Thạch Lam không có cốt truyện đặc
biệt, giọng điệu và ngôn ngữ nhiều chất trữ tình: MỗI truyện ngắn của
Thạch Lam có cấu từ và giọng điệu như một bài thơ trữ tình, gợi sự
thương xót trước số phận của những con ngườI nhỏ bé bất hạnh. Một giọng
văn bình dị mà tinh tế. Âm điệu man mác bao trùm hầu hết truyện ngắn và
thiên nhiên cũng trữ tình. Văn cứ mềm mại, uyển chuyển, giàu hình ảnh,
nhạc điệu . Đó chính là chất thơ trong truyện ngắn Thạch Lam, “có cái
dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây” khiến ta vương phải.
“ Hai đứa trẻ” là đặc trưng của hồn văn Thạch Lam. Nó là “một bài thơ trữ tình đầy xót thương”
Truyện
“ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một mẩu chuyện sinh hoạt kéo dài của
hai chị em đứa trẻ thay mẹ trông nom một gian hàng vặt ở một phố huyện
gần một cái ga xép. Đêm đêm những bóng ngườI bình thường cũng lù mù đi
qua trước gian hàng. Những bóng ngườI ấy cũng lù mù như nhiều chấp lửa ở
những nguồn sáng quanh quất nơi phố huyện. Trong cái bốn bề chìm chìm
nhạt nhạt, bỗng có tiếng động mạnh và những luồng sáng mạnh của một
chuyến xe lửa kéo qua hàng ngày. Hai chị em ngày nào cũng chờ một chuyến
tàu đêm kéo qua ra mới chịu đóng cửa hàng. Nguyễn Tuân đã tóm tắt
truyện như thế. Đúng vậy, truyện này tưởng như không có cốt truyện,
không có biến cố. Nó chỉ là biến diễn của một thời gian ngắn, từ khoảng
năm giờ chiều khi “phương tây đỏ rực như lửa cháy” đến chín giờ tốI “đêm
tốI bao bọc chung quang”; nó chỉ là biến diễn bên trong “tâm hồn ngay
thơ của hai chị em Liên, An trong một buổI tối của các thường ngày tưởng
như “ tẻ nhạt”, “không có gì” … Song vượt lên trên các thường ngày,
Thạch Lam bằng con đường nghệ thuật riêng với thế giới nghệ thuật riêng,
một thờI gian riêng, không gian riêng, nhân vật riêng, ngôn ngữ riêng
đã tạo nên khí vị nhẹ nhàng, buồn man mác, đậm đà hương vị đồng quê;
nhiều bóng tốI mà chói sáng mốI tình thương yêu hiền hoà, nhân hậu, xót
thương chân thành, phảng phất thơ toả lên từ quê hương. Truyện không có
cốt truyện như chất chứa biết bao cảnh đời, bao tâm trạng, tâm cảnh sâu
lắng tinh tế.
Diện mao phố huyện được Thạch Lam tái hiện là một
khung cảnh buồn, là cảnh chiều tàn đi dần vào đêm khuya. Hàng ngà, những
cái ồn ào của buổI sáng làm không khí bị nhoè đi trong nắng như đến
chiều thì cái bộ mặt thật của phố huyện hiện ra vớI tất cả những cái
tiêu điều, xác xơ, tàn lụi. “Chiều chiều rồi” như là một lời thảng thốt,
bàng hoàng như một tiếng thơ dài. Thế là một buổI chiều nữa lại đến,
chiều là buồn. Ấn tượng về buổi chiều khá sâu đậm. Thạch Lam đã chọn một
phiên chợ tàn để nói lên được tất cả bộ mặt của phố huyện. Chợ là nơi
biểu hiện sức sống của một làng quê, biểu hiện thuần phong mĩ tục của
làng quê. NgườI ở nông thôn thường trông chờ vào ngày chợ phiên đông vui
tấp nập. Thạch Lam đã chọn ngày chợ phiên để nói cái xác xơ tiêu điều
của phố huyện. Mặc dù không tả buổi chợ phiên nhưng ông đã tả những phế
phẩm còn lạI của buổi chợ, đó cũng là cách biểu hiện sức sống đầy hay
vơi của phố huyện. Tả những con người cuốI cùng trao đổi với nhaurồI
bước vào các ngỏ tối. Rác chỉ là những thứ phế thảI vớ vẫn “rác rưởi, vỏ
bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía, những thanh nứa thanh tre…Lũ trẻ vẫn
còn ra bòn mót, nhặt nhạnh. Ngày chợ phiên như thế thì sức sống đã kém
lắm, đã yếu lắm rồi. NgườI bán trông vào người mua và ngược lại nhưng
chỉ là sự vô vọng, lẩn quẩn, trông chờ vào sự vô vọng. Mùi vị toả ra
trong không gian này là một thứ mùi đặc trưng để nói tới sự nghèo nàn.
Đó là mùi bã mía, vỏ bưởI, vỏ thị, đất ẩm, mùi khói, mùi cỏ, mùi phân
trâu nồng nồng ngai ngái… Cái mùi vị ấy cũng góp phần làm cho khung cảnh
thêm phần tàn tạn héo úa, lụi dần.
Có thể thấy xung đột giữa
bóng tốI và ánh sáng khá mạnh mẽ. Ánh sáng và bóng tối đang giao tranh
nhau. Ánh sáng yếu dần ban đầu là “ bầu trờI đỏ rực như lửa cháy, mây
ánh hồng như hòn than sắp tàn” sau đó là bóng tốI hiện dần ở bóng xẩm
trên ngọn tre và cuốI cùng bao trùm lên khu phố huyện là cái bóng tốI
mênh mông của nó, tín hiệu là ngọn đèn Hoa Kỳ của chị Tí. Ở đây ánh sáng
và bóng tốI còn mang ý nghĩa tượng trưng, ánh sáng là ước mơ , bóng tốI
là nghèo nàn và cô đơn; mở đầu chuyện ánh sáng tắt dần, bóng tốI chiếm
lĩnh. Chính cái ánh sáng cuốI cùng ấy báo hiệu rõ màn đêm- màn đêm vừa
sâu vừa dày sẽ diễn ra tiếp đó. Ánh sáng càng ngày càng thu nhỏ phạm vi
hoặc ở xa manh mảnh, li ti như ánh sáng của ngôi sao trên bầu trờI hoặc
yếu ớt ảm đạm lọt qua khe cửa khép hờ hoặc toả trên cái bóng tre của chị
Tí. Ánh sáng ấy biểu hiện một sự tàn lụI ở cường độ thấp và khả năng
thu hẹp của nó. Tiếng trống thu không rờI rạc, chậm, lẽ tẻ và cứ tắt lịm
dần. Nhưng âm thanh nhỏ nhất như tiếng muỗI vo ve gợI cảm giác về sự
ngưng đọng. Nó rơi tỏm vào trong không gian đang chết lặng. Đó là những
âm thanh không có hồi âm, nó chỉ nhấn mạnh thêm cái buồn tẻ đến rợn
ngườI của phố huyện lúc chiều tối. Tất cả hô ứng, qui tụ để cho ngườI
đọc thấy rõ được khung cảnh thật của phố huyện một ngày tàn. Thạch Lam
miêu tả nhận xét một cách tinh tế, sâu xa bước đi thời gian của nơi phố
nghèo. NgườI đọc dường như thấy được bước chuyển biến của thời gian rung
lên bằng ngôn ngữ riêng. Sức rung động của câu văn có khả năng đánh
thức con người hãy cảm nhận thật tinh tế khung cảnh phố huyện và tâm sự
của Thạch Lam.
Trên cái nền ấy, những cảnh đờ, những con người,
đúng hơn là những phiến cảnh về cuộc đờI, về con người bé mọn, hoàn toàn
không có ước vọng, khát khao được khắc hoạ rõ nét. Họ nói chuyện với
nhau nhưng dường như chẳng có nộI dung. Họ có đi lạI, ăn nói vớI nhau
nhưng chỉ thấy họ vừa lòng thoả mãnvớI cảnh chật hẹp. Mua chịu nửa bánh
xà phòng, bán đong hơn một ngấn rượu trong chiếc cút bé nhỏ …Chị Tí là
điển hình cho ngườI dân phố huyện vớI nhịp sống quẩn quanh : ban ngày mò
cua bắt tép, ban tốI chị mớI mở cái hàng bán nước. Cái đáng sợ là vẫn
biết bán không được gì “sớm muộn mà có ăn thua gì?” mà vẫn cứ ra. Đây
không phảI là sự sống thực sự mà là sự sống cầm chừng cầm cự vớI cuộc
sống, giao tranh, tranh giành vớI cái đói,cái chết trông chờ vào những
ngườI trên tàu là qua bấp bênh có khác gì trông chờ vào những ngườI
khách ấy để sống. Cách chị Tí trả lời câu hỏI của Liên: không trực tiếp
trả lời ngay mà còn làm thêm để chõng xuống đất, bày biện các bát uống
nước mãi rồi mới chép miệng trả lời : “Ối chao, sớm muộn mà có ăn thua
gì”. Câu văn cho ta thấy nhịp sống chập chạp, lẩn quẩn của nhân vật. Bác
phở Siêu có vẻ khá hơn nhưng nhưng nguy cơ lạI lớn hơn vì thứ mà bác
bán là thứ quà xa xỉ mà ngay cả chị em Liên cũng không dám ăn. Bác Xẩm
góp tiếng đàn run bần bật trong đêm tối, mà không hề có tiếng động nào
của một đồng xu. Bà cụ là một con ngườI bị tàn lụi, héo úa và cho ta cảm
giác rợn ngườI, kinh hoàng. Bà là kiếp ngườI đáng sợ ở chi tiết vừa đi
vào bóng tốI vừa cườI khanh khách. Cách xưng hô với Liên “chị” đã kéo xa
khoảng cách tình giữa con ngườI vớI con gnườI vốn nó rất cần trong hoàn
cảnh cầm chứng này. Cụ Thi điên là một nạn nhân đầy đủ nhất của kiếp
người, như một cái cây đã tàn lụi quá nhiều - kiếp ngườI héo hắt – tàn
lụi. Cụ Thi xuất hiện chỉ trong mấy dòng truyện ít ỏi nhưng đã ám ảnh
người đọc, thức dậy trong ta lòng trắc ẩn chân thành.
Ở vị trí
tiền cảnh của bức tranh đờI buồn thảm, héo tàn, mờ mờ lay động bóng hai
chị em nhỏ tuổI cũng âm thầm không kém vớI cái “cửa hàng tạp hoá nhỏ
xíu” mà khách hàng là những ngườI khốn khổ có khi không đủ tiền mua nổI
nửa bánh xà phòng hoặc chỉ đủ tiền cho cút rượu nhỏ “uống một hơi cạn
sạch”. Liên xót xa cho những kiếp ngườI lay lắt nhưng cuộc sống của Liên
cũng cầm chừng không kém. NỗI khổ của Liên có lẽ còn cao hơn nỗI khổ
vật chất của những người khác, đó là bi kịch tinh thần bởi họ khổ mà
không biết mình khổ còn Liên đã thực sự thấm thía cảnh sống tẻ nhạt tù
hãm và đơn độc hết ngày này sang ngày khác. Biện pháp duy nhất để khuây
khoả nỗI hắt hiu, đơn điệu chỉ là đêm nào cũng mỏI mắt cố gắng chờ đợI
một chuyến tàu đi qua : “đó là hoạt động cuốI cùng của đêm khuya”.
Ánh
sáng của đoàn tàu là mảng ánh sáng rực rở, mạnh mẻ song ở ánh sáng này
cũng chỉ vụt loé lên nhanh như một vì sao băng để rồi vĩnh viễn tắt lịm
trong màn đêm khiến ta phảI ngơ ngác, bàng hoàng. Dường như “Hai đứa
trẻ” là truyện của những nguồn ánh sáng, hồi tưởng của Liên cũng là hồI
tưởng về ánh sáng. Lần đầu tiên Liên “nhớ lại” Hà NộI, một kí ức không
rõ rệt, Hà NộI là một vừng sáng rực lấp lánh “và” Hà NộI nhiều đèn quá.
Lần thứ hai, Liên mơ tưởng “Hà Nội xa xăm” , “Hà Nội sáng rực vui vẻ và
huyên náo” . Cái cảnh tượngcủa quá khứ đẹp đẽ ấy tương phản gay gắt vớI
cái tốI mịt mù dướI gốc bàng của hiện tạI đang diễn ra. Quá khứ và hiện
tạI, ánh sáng và bóng tốI, lãng mạng và hiện thực, giấc mơ nghèo và sự
thật nghèo khổ, tất cả tạo nên biến động sâu kín trong tâm hồn Liên. Ánh
sáng của đoàn tàu là ánh sángcủa mơ ước, nó chỉ thoáng qua, tắt lịm và
để rồi tất cả lại chìm trong bóng tốI mênh mông, buồn tẻ.
Tất cả
các nhân vật đó đã hiện ra dướI cái nhìn xót thương của ngườI tái hiện.
Và nỗI thương cảm của Liên đốI với mấ đứa trẻ đi nhặt rác, vớI chị Tí,
vớI bác Siêu, vớI cụ Thi điên cũng là cảm xúc của chính Thạch Lam. Thạch
Lam đã hoá thân vào nhân vật để nói cái cảm quan xót thưong của mình.
Đoàn tàu vớI thoáng sáng vụt qua rất nhanh rồI tắt lịm đã thay đổi một
chút ít không khí của thế giớI hiện tạI, phảI chăng đó là khát vọng
thoát khỏI cuộc sống tù đọng dù chỉ trong chốc lát của Thạch Lam. Nhà
văn day dứt về một kiếp sống tàn lụi, héo úa, đơn điệu, hư vô chứ không
chỉ có xót thương thông thường. Chính vì vậy mà ông trình bày hiện thực
của phố huyện mang ý nghĩa khái quát lớn của xã hội Việt Nam về sự trì
trệ. Nếu đặt trong dòng thờI sự văn học buổI ấy, ta thấy Thạch Lam phản
ánh khá rõ nét một hoàn cảnh, tâm lí thờI đạI mã Nam Cao đã phảI từng
thốt lên : “Cuộc đời đang cùn đi, gỉ đi, nổi váng lên”…
“Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn như một bài thơ trữ tình bởi cấu từ, giọng điệu, ngôn ngữ của nó, giống như một bài thơ.
Cấu
từ của truyện là cấu từ vòng tròn xoay quanh hình ảnh bóng tối được lặp
đi lặp lại nhiều lần (không dưới ba mươi lần). Khi miêu tả cảnh trời
phố huyện cũng như cảnh đời những con người phố huyện, tác giả đặc biệt
có ý sử dụng một cách công phu yếu tố nghệ thuật :hình ảnh bóng tốI bao
trùm cảnh vật và con ngườI mà tác giả dụng công miêu tả từ nhiều thời
điểm, từ nhiều góc nhìn, từ nhiều tâm cảnh khác nhau. Bóng tối như một
ám ảnh, như một sự hăm doạ, như một quái vật đè nặng lên cảnh vật và con
người. Tác giả nhắc đến bóng tốI nhiều lần dưới những cách nói hình ảnh
từ ngữ tuy có khác nhau : “buổi chiều hòn than sắp tàn”, “mặt đen lại”,
“chiều, chiều rồi” , “bóng tối ngập đầy” , “bước của buổi chiều” ,
“ngày tàn” . Tác giả miêu tả rất nhiều trạng thái khác nhau của bóng tối
đến vớI tiếng trống thu không tư trên chòi cao, bóng tốI sắp đến vớI
những đám mây hồng như hòn than sắp tàn, bóng tối đến vớI dãy tre làng
đen lại, bóng tốI đến với cánh muỗi vo vo, bóng tối đến với những viên
đá nhỏ trên con đường mấp mô, bóng tối trùm lên đường phố và các ngõ
huyện… Nói tóm lại, bóng tối được lặp đi lặp lại đầu và cuối huyện. Bóng
tối như một cái gì hãi hùng đang hoạt động, đang thâm nhập, đang len
lỏi, luồn lách, bám sát vào mọi cảnh vật, mọi trạng thái hoạt động âm
thâm của mọi sinh vật. Nó như cái nền không gian nghệ thuật của tác
phẩmvà không gian xã hội của con người. Bởi tối là lúc chị Tí xuất hiện
“tối đến chị mới dọn cái hàng dưới gốc cây bàng”; về đêm bác phở Siêu
mới xuất hiện như một chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất
đi rồi lại hiện ra … bóng tối là nơi cụ Thi mang đến và mang đi “một
tiếng cười khanh khách nhỏ dần” , một cụ Thi cuộc đời không rõ ràng
nhưng rõ ràng là đang chứa ẩn một nỗi lòng u uất cứ chìm trong bóng tối;
vợ chồng bác Xẩm thu gọn trên manh chiếu chật hẹp, với chị em Liên, tác
giả kể tỉ mỉ hơn nhưng tâm trạng, những suy nghĩ của hai đứa trong đêm
tối: đêm tối ngập đầy đôi mắt của Liên, Liên thích ngồi yên lặng ngắm
nhìn trong đêm tối, về khuya, Liên ngồi yên lặng trong đêm chờ đón đoàn
tàu, khi tàu vụt qua, Liên nhập dần vào giấc ngủ yên tĩnh như đêm ở
trong phố tịch mịch và đầy bóng tối…
Lặp đi lặp lại gián tiếp hay
trực tiếp hình tượng bóng tối cũng chính là cách để tác giác bộc lộ chủ
đề tác phẩm qua cảm quan xót thương và tạo cho truyện có âm hưởng, cấu
từ như một bài thơ trữ tình.
Mặt khác, việc miêu tả những cảm
giác thiên nhiên rất hiếm trong hiện thực phê phán nhưng trong “Hai đứa
trẻ” , Thạch Lam luôn luôn miêu tả khi có cơ hội. Thiên nhiên bao bọc
truyện với nhiều trạng thái phong phú. Tác giả còn chú ý khắc hoạ được
cảm giác mơ hồ về giờ khắccủa ngày tàn và về vũ trụ thăm thẳm bao la rất
gần gũi mang sắc thái dân tộc, cũng chính vì vậy mà nhân vật chính của
câu chuyện là Liên cứ mang theo vẻ hồn man mác.
Chất thơ còn được
thể hiện ở ngữ điệu nhỏ nhẹ, man mác thú vị ở lời văn, ở những cảm xúc
tinh tế của một tâm hồn dể rung động. Truyện cứ trải dài ra như một bài
thơ, lắng sâu thanh lọc hồn ta. Chất nhạc thấm trong từng câu văn thấm
thía. Một giọng văn bình dị mà tinh tế, đầy ưu ái. Có thể nói “ hai đứa
tẻ” là một bài thơ trữ tình trọn vẹn của Thạch Lam.
Khi nói “mỗi
truyện là một bài thơ trữ tình đầy xót thương” thì người nói muốn nhấn
mạnh cả về nộI dung lẫn hình thức của truyện. NộI dung thể hiện hình
thức và ngược lại. Nó là sự gắn bó hoài hoà để tạo nên tác phẩm. Văn
phong của Thạch Lam được thể hiện đặc trưng trong “Hai đứa trẻ”, và tôi
muốn kết thúc bài viết này bằng ý kiến của Nguyễn Tuân: “Ngày này đọc
lạI Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác
phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học.”
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Thể Loại
- Nghị Luận Văn Học (7)
- Văn Mẫu Thpt (7)
Văn Mẫu Hay
- Cái tôi trong bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
- Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh để làm nổi bật "tinh thần thép" hoặc " nét cổ điển hiện đại".
- Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong Những đứa con trong gia đình Nguyễn Thi
- Phân tích khổ đầu bài thơ Tây Tiến
- Thạch Lam và Hai đứa trẻ
- Hình ảnh miền Tây Tổ Quốc qua bài thơ Tây Tiến
- Ý nghĩa cuối cùng của tác phẩm Chiếc Thuyền Ngoài Xa
0 nhận xét:
Đăng nhận xét